Bùi Đại Huynh - B.L and B.B.A

Tác giả của Blog này.

Mr. Huynh

Chuyên nghiên cứu pháp luật về chứng khoán, ngân hàng, đầu tư, doanh nghiệp.

Tác giả cùng bạn bè tại Đại học Luật TPHCM

Các nam cử nhân tại lớp QTL35 ĐH Luật TPHCM - tháng 7/2015.

Tác giả tại ĐH Luật TPHCM

Sáng tri thức - Vững công minh.

Khát vọng làm giàu

Ước mơ có thật nhiều tiền không bao giờ là xấu, cái xấu là có nhiều tiền bằng các hành vi vi phạm pháp luật.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Phân tích thuật ngữ mua ký quỹ trong giao dịch ký quỹ trên Thị trường chứng khoán

Phân tích thuật ngữ mua ký quỹ trong 
giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng khoán


   1. Đặt vấn đề
   Giao dịch ký quỹ gồm mua ký quỹ và bán khống chứng khoán. Đây là hai hoạt động độc lập, có nội dung khác nhau nhưng đều là một phần của giao dịch ký quỹ. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép mua ký quỹ và cấm bán khống chứng khoán. Bài viết này tập trung làm rõ thuật ngữ mua ký quỹ theo các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành.

  2. Phân tích
  Có sự khác nhau trong định nghĩa về “mua ký quỹ” giữa Bộ tài chính (BTC) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (SGDCK HN). Cụ thể, “Giao dịch mua ký quỹ chứng khoán (margin) là giao dịch mua chứng khoán của khách hàng có sử dụng tiền vay của công ty chứng khoán và sử dụng các chứng khoán khác có trong tài khoản và chứng khoán mua được bằng tiền vay để cầm cố”[1] là cách định nghĩa của BTC. Còn SGDCK HN định nghĩa “Mua ký quỹ (margin purchase), người đầu tư chỉ cần có một phần tiền trong tổng giá trị số chứng khoán đặt mua, phần còn lại do công ty chứng khóan cho vay. Sau khi giao dịch được thực hiện, số chứng khoán đã mua của khách hàng được công ty chứng khoán giữ lại làm thế chấp cho khoản vay”[2].
     Hai điểm khác nhau cơ bản trong hai định nghĩa này:
 Thứ nhất, BTC dùng từ “margin”, còn SGDCK HN dùng từ “margin purchase” để nói về giao dịch mua ký quỹ chứng khoán. Theo tác giả, cách dùng từ của SGDCK HN là chính xác hơn. Giao dịch mua ký quỹ chứng khoán không đồng nghĩa với “margin”. “Margin” theo từ điển Lạc Việt Anh–Việt thì mang nghĩa là số dư. Ở đây, “margin account” thể hiện một tài khoản có số dư, số dư tiền hoặc chứng khoán. Giao dịch trên “margin account” (tài khoản giao dịch ký quỹ), hay còn gọi là “margin trading”, nói ngắn gọn lại là giao dịch ký quỹ. Việc nhà làm luật dùng dấu ngoặc đơn để nói rằng giao dịch mua ký quỹ chứng khoán là “margin” vô tình đã làm sai đi khái niệm “margin”. Có thể hiểu ý chí của BTC khi ban hành thông tư này là do chúng ta chưa cho phép bán khống nên “margin” cứ tạm hiểu là mua ký quỹ. Điều này sẽ dẫn đến một ngày khi chấp nhận bán khống, nhà làm luật sẽ lại phải sửa khái niệm về mua ký quỹ này. Rõ ràng, một văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành cần sự chính xác về từ ngữ, đồng thời nên dự trù cho những khả năng phát sinh trong tương lai.
 Thứ hai, chứng khoán mua về được cầm cố (theo cách viết của TT số 74/2011/TT-BTC) hay thế chấp (theo thuật ngữ mà SGDCK HN sử dụng)? Theo tác giả, cách dùng từ của BTC là đúng. Theo khoản 1, Điều 1 của Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”. Mà giấy tờ có giá thì đương nhiên là chỉ có thể được cầm cố chứ không thể thế chấp được. BLDS 2005 quy định “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”[3]. “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”[4]. Như vậy, hiểu đơn giản là cầm cố thì chuyển giao tài sản cho bên kia, còn thế chấp thì không. Với các loại cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán hiện nay thì thường tồn tại dưới hình thức dữ liệu điện tử, mà tại đó, khi khách hàng dùng nó để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ với công ty chứng khoán thì công ty chứng khoán sẽ phong toả, quản lý chứng khoán ấy. Chứng khoán ấy nằm trong tài khoản của khách hàng, nhưng tài khoản của khách hàng thì được quản lý bởi công ty chứng khoán. Muốn bán các chứng khoán ấy, khách hàng phải thực hiện lệnh thông qua công ty chứng khoán. Do đó, có thể nói chứng khoán đã được chuyển giao cho công ty chứng khoán, nên dùng từ “cầm cố” là hợp lý. Tham khảo cách hiểu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại điểm c, 2.1, mục I, Thông tư số 07/2003/TT-NHNN thì cổ phiếu là tài sản có thể cầm cố. Tham khảo Điều 338 Dự thảo sửa đổi BLDS 2005 của Bộ tư pháp cũng có nói đến “cầm cố chứng khoán”. Có thể thấy, các văn bản và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hiện nay đang khá nhất quán về câu chuyện cầm cố chứng khoán, chứ không phải thế chấp chứng khoán. Tuy nhiên trên thực tế, không chỉ SGDCK HN mà còn rất nhiều công ty chứng khoán, báo chí,…hay gặp phải lỗi sai này, hoặc là dùng từ “thế chấp cổ phiếu”, “bán giải chấp “ (là bán chứng khoán đang được thế chấp) hoặc là “cầm cố, thế chấp cổ phiếu”. Ngay cả quy chế về giao dịch ký quỹ do UBCKNN ban hành với Quyết định 637/QĐ-UBCK năm 2011 cũng dùng từ “thế chấp” đối với chứng khoán trong chương 6, “Quy định về ký quỹ, thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp”. Do đó, cần thống nhất rằng chứng khoán (ở đây đang nói đến cổ phiếu và chứng chỉ quỹ vì giao dịch ký quỹ chỉ áp dụng với hai loại chứng khoán này) là được cầm cố chứ không phải thế chấp.


   3. Kết luận 
   Các quy định của pháp luật luôn đòi hỏi sự chính xác về ngôn ngữ. Bài viết trên nhằm chỉ rõ cách sử dụng từ ngữ chưa chính xác về mua ký quỹ trong các văn bản pháp luật chứng khoán. Nội dung bài phân tích được trích dẫn từ Luận văn tốt nghiệp "Pháp luật về giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng khoán" đạt điểm 9.5 của tác giả tại khoa Luật Thương mại, trường ĐH Luật TPHCM năm 2015.



[1] Điều 2, khoản 8 Thông tư 74/2011/TT-BTC.
[2] Mục 58 tại http://hnx.vn/web/guest/thuat-ngu, truy cập ngày 14/07/2015.
[3] Điều 326 Bộ luật dân sự.
[4] Điều 342 khoản 1 Bộ luật dân sự.

Bình luận về nội dung quy tắc tố tụng trong thoả thuận trọng tài

Bình luận về nội dung quy tắc tố tụng trong thoả thuận trọng tài

1.      Đặt vấn đề
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên. Do đó, một trong những nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng thương mại là tự do thỏa thuận. Các bên có thể thỏa thuận các vấn đề về đối tượng mua bán, giá cả, thời gian, địa điểm giao hàng, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên… Để các tranh chấp từ hợp đồng có thể giải quyết tại VIAC, các bên cũng cần một thỏa thuận trước: thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên, thực tế có nhiều tranh chấp dù đã có thoả thuận về trọng tài trước đó nhưng khi đưa vụ việc ra các trung tâm trọng tài thì vẫn không được thụ lý. Bài viết này sẽ bình luận về nội dung quy tắc tố tụng trong thoả thuận trọng tài để giải quyết về vấn đề đó.
2.      Bình luận
Theo Điều 5 LTTTM: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”. Tại Điều 6 Quy tắc VIAC 2012 cũng quy định: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có thỏa thuận trọng tài và các tài liệu khác có liên quan”. Như vậy, đây là điều kiện tiên quyết bắt buộc để các bên đưa tranh chấp ra VIAC giải quyết. Nhưng thỏa thuận trọng tài thế nào là đúng? Nếu trong hợp đồng thỏa thuận nơi giải quyểt tranh chấp là VIAC còn quy tắc tố tụng lại là của trung tâm trọng tài khác thì VIAC có xem đây là thỏa thuận trọng tài đúng và đứng ra giải quyết không? Dưới đây là một vụ việc thực tế khi các bên lựa chọn VIAC là nơi giải quyết tranh chấp, và quy tắc tố tụng áp dụng sẽ là của ICC.
Tại hợp đồng, người bán và người mua thỏa thuận mua bán phân bón. Tại điều 20 của hợp đồng hai bên cũng đã thỏa thuận: “Bất kỳ tranh chấp nào phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này, kể cả các tranh chấp về sự tồn tại, hiệu lực hoặc chấm dứt hợp đồng, sẽ được đưa đến và giải quyết chung thẩm bởi Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghệ Việt Nam tại tp.Hồ Chí Minh hoặc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) theo yêu cầu của nguyên đơn. Quy tắc Hòa giải và Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc Tế (ICC) sẽ được áp dụng…”
Cũng như VIAC ở Việt Nam, ICC ở Pháp là một trung tâm trọng tài có quy tắc tố tụng riêng biệt. Việc hai bên lựa chọn tổ chức trọng tài là VIAC hoặc SIAC nhưng quy tắc tố tụng áp dụng lại thuộc ICC gây vướng mắc trong việc xác định trung tâm trọng tài có thẩm quyền. Trên thực tế, nguyên đơn đã lựa chọn VIAC là nơi nộp đơn khởi kiện và VIAC đã không thụ lý.
 VIAC đã trả lời nguyên đơn vấn đề này như sau:
“Căn cứ Điều 1 Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC về phạm vi áp dụng thì Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC không được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Công ty Liven nêu trên.
Căn cứ khoản 2 Điều 49 Pháp lệnh Trọng tài thương mại của Việt Nam quy định thì Hội đồng trọng tài do Trung tâm Trọng tài tổ chức hoặc Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập được áp dụng các quy tắc tố tụng khác, nếu các bên có thỏa thuận. Tuy nhiên, VIAC chỉ có thể thành lập Hội đồng Trọng tài theo Quy tắc tố tụng trọng tài của chính VIAC. Đồng thời, VIAC không thể áp dụng Quy tắc tố tụng trọng tài của Tòa án Trọng tài Quốc tế ICC đề thành lập Hội đồng Trọng tài”.
Tại thời điểm năm 2005, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 đang hiệu lực và cho phép các bên có thể thỏa thuận chọn quy tắc tố tụng. Tuy nhiên quy định này hoàn toàn không khả thi. Mỗi trung tâm trọng ban hành quy tắc tố tụng riêng và đã được tổ chức sao cho hợp với quy tắc tố tụng của mình. Tương tự như việc không tưởng là yêu cầu Tòa án Việt Nam sử dụng luật tố tụng của quốc gia khác. Đến năm 2010 khi ban hành Luật TTTM vấn đề này cũng đã được đưa ra xem xét và thay đổi. Tại Khoản 6 Điều 3 LTTTM quy định: “Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó”.
Quay lại với vụ việc giữa hai bên, sau khi bị VIAC từ chối thụ lý đơn, nguyên đơn đã gửi đơn khởi kiện lên Trung tâm trọng tài Quốc Tế ICC. Nhưng một lần nữa, đơn khởi kiện bị từ chối thụ lý. Tại thư trả lời của ICC viết rằng: “ Nếu các bên đồng ý áp dụng Quy tắc Trọng tài ICC, Trung tâm trọng tài phải là Trọng tài Quốc tế ICC. Không tổ chức nào khác có quyền xét xử trong trường hợp này. Vì Trọng tài ICC đóng vai trò quan trọng trong nhiều bước của tiến trình giải quyết vụ án như chỉ định trọng tài viên hoặc kiểm soát phán quyết trọng tài. Ban thư ký của trọng tài ICC, trụ sở tại Paris cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát các thủ tục theo Quy tắc. Do đó, Trung tâm Trọng tài Quốc tế ICC không có thẩm quyền tiền hành xét xử khi Trung tâm Trọng tài khác được đề cập như là VIAC”.
Như vậy, để hạn chế các rủi ro trong thoả thuận trọng tài, các bên trong hợp đồng cần hiểu và thoả thuận rõ ràng rằng chọn trung tâm trọng tài xét xử nào thì áp dụng quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài đó.
3. Kết luận
                 Đưa tranh chấp ra xét xử tại các trung tâm trọng tài đang là một hướng đi mới trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại với rất nhiều ưu điểm. Tuy nhiên, để vụ việc có thể được xét xử tại trung tâm trọng tài, điều kiện tiên quyết là các bên phải có thoả thuận trọng tài. Bài viết trên đã đề cập đến một lỗi thường hay gặp của các bên khi thoả thuận chọn trọng tài giải quyết tranh chấp: Nội dung về quy tắc tố tụng trong thoả thuận trọng tài. Hi vọng bài viết giúp các bên hiểu rõ hơn về nội dung này để tránh các rủi ro dù có thoả thuận trọng tài nhưng vẫn không được các trung tâm trọng tài thụ lý giải quyết tranh chấp.  
Tác giả
Bùi Anh Tú
B.L - B.B.A, Quản trị - Luật K35, ĐH Luật TPHCM

Tìm hiểu và phân biệt giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng khoán với ký quỹ trong pháp luật dân sự


1. Đặt vấn đề
 Trên thực tế, cụm từ “ký quỹ” xuất hiện khá nhiều. Chúng ta thường nghe đến: tiền gửi ký quỹ tại các ngân hàng thương mại, tiền ký quỹ thuê nhà, tiền ký quỹ thực hiện hợp đồng,…Tất cả các loại ký quỹ này đều được hiểu là ký quỹ theo quy định của Bộ luật dân sự 2005. Ký quỹ là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự [1], cụ thể: “Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng. Thủ tục gửi và thanh toán do pháp luật về ngân hàng quy định”[2]. Ký quỹ trong giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng khoán (TTCK) cũng mang ý nghĩa tương tự, thể hiện tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của nhà đầu tư với công ty chứng khoán. Tuy nhiên, giao dịch ký quỹ trên TTCK có những điểm khác biệt cơ bản với khái niệm ký quỹ trong pháp luật dân sự. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam hiện tại chỉ cho phép mua ký quỹ (hiểu là vay tiền của công ty chứng khoán để mua chứng khoán), không cho phép bán khống chứng khoán (hiểu là vay chứng khoán từ công ty chứng khoán để bán ra thị trường). Vì vậy, trong bài viết này, giao dịch ký quỹ được hiểu là mua ký quỹ.

2. Phân biệt
 Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng giao dịch ký quỹ chỉ có hai bên là công ty chứng khoán và nhà đầu tư, không có bất cứ bên liên quan nào. Còn ký quỹ theo Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 sẽ có 3 bên: người ký quỹ là bên có nghĩa vụ từ một hợp đồng chính, bên có quyền lợi từ hợp đồng chính, ngân hàng là nơi nhận tài sản ký quỹ. Hơn thế nữa, giao dịch ký quỹ bắt buộc phải được thực hiện trên tài khoản ký quỹ (margin account) được mở tại công ty chứng khoán và nhà đầu tư thực hiện giao dịch ký quỹ buộc phải vay tiền từ công ty chứng khoán để mua chứng khoán. 
 Thứ hai, về tài sản ký quỹ. Trong giao dịch ký quỹ trên TTCK, chỉ được ký quỹ tiền và chứng khoán. Còn ký quỹ theo BLDS 2005, ngoài tiền, có thể ký quỹ vàng, bạc, giấy tờ có giá,…
 Thứ ba, về giao dịch tài sản ký quỹ. Với ký quỹ trong pháp luật dân sự thì tài sản ký quỹ được gửi vào tài khoản ngân hàng và tài khoản ấy bị phong toả, như vậy không ai có thể tác động vào tài khoản ấy trong thời gian thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng chính. Với giao dịch ký quỹ trên TTCK, nhà đầu tư có thể lấy tiền ký quỹ ban đầu để mua chứng khoán, sau đó lấy chứng khoán đấy cầm cố vay tiền từ công ty chứng khoán để tiếp tục mua chứng khoán. Như vậy, tài sản ký quỹ chuyển hoá từ tiền thành chứng khoán. Và chứng khoán đã mua về lại có thể tiếp tục được bán đi. Đó là một chuỗi mua bán chứng khoán diễn ra liên tục trong giao dịch ký quỹ trên TTCK. Thực ra, cách dùng từ tài sản ký quỹ còn gây nhiều tranh cãi, theo tác giả, chính xác hơn phải gọi đó là tài sản cầm cố. Cụ thể, nếu nhà đầu tư có sẵn chứng khoán thì có thể cầm cố chứng khoán để vay tiền mua chứng khoán khác, nếu nhà đầu tư có tiền thì sẽ mua chứng khoán về, sau đó lại cầm cố chứng khoán đã mua đó để vay tiền mua chứng khoán khác.

3. Kết luận.
  Phân biệt giao dịch ký quỹ trên TTCK và ký quỹ trong pháp luật dân sự giúp các nhà đầu tư nhận thức rõ hơn hoạt động đầu tư của mình đang chịu sự điều chỉnh của pháp luật nào. Ngoài ra, bài viết giúp làm rõ khái niệm giao dịch ký quỹ với các giao dịch khác có nội dung gần giống với giao dịch ký quỹ, qua đó nhận thức sự khác biệt này để hiểu hơn các quy định có liên quan, tạo tiền đề cho các hoạt động đầu tư theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành.
  Nội dung bài phân tích được trích dẫn từ Luận văn tốt nghiệp "Pháp luật về giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng khoán" đạt điểm 9.5 của tác giả tại khoa Luật Thương mại, trường ĐH Luật TPHCM năm 2015.



[1] Xem Điều 318 khoản 1 điểm đ Bộ luật dân sự.
[2] Điều 360 BLDS 2005.

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

PHÂN TÍCH VỀ PHẠT VI PHẠM VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG

PHÂN TÍCH VỀ PHẠT VI PHẠM VÀ 
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG

1             1. Đặt vấn đề
  Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là hai chế tài khá phổ biến trên thực tế hiện nay. Đây là hai chế tài khác nhau, được quy định trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nổi bật nhất là BLDS 2005 và Luật Thương mại 2005. Hai văn bản quy phạm pháp luật này cũng có những quy định không giống nhau về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Về nguyên tắc, chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dân sự sẽ thuộc sự điều chỉnh của BLDS 2005, trong hợp đồng thương mại sẽ thuộc sự điều chỉnh của LTM 2005. Do đó, bài viết này sẽ tập trung phân tích chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dân sư và hợp đồng thương mại. Qua đó, hiểu rõ hơn về sự khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng; sự khác nhau trong các quy định của BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 về vấn đề này.

2      2. Lý luận chung
2.1.            Phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại
 “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”[1]. Trong khi đó, không có khái niệm “hợp đồng thương mại” trong pháp luật thương mại. Vì thế, ta có thể lấy định nghĩa từ luật dân sự để định nghĩa “hợp đồng thương mại” vì BLDS 2005 được coi là một bộ luật chung, bao quát cả những quan hệ về thương mại. Do đó, có những quan hệ trong hoạt động thương mại giữa các các bên mà không được quy định trong LTM 2005 thì áp dụng quy định của BLDS 2005. “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[2]. Như vậy, có thể hiểu “Hợp đồng thương mại là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. “Các bên” ở đây phải đáp ứng được về đối tượng áp dụng theo điều 2, LTM 2005.
  Hai sự khác nhau cơ bản giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại:
-         Về chủ thể: Với hợp đồng thương mại, bắt buộc chủ thể phải thoả mãn điều 2, LTM 2005, về cơ bản, đó là các thương nhân. Còn chủ thể của hợp đồng dân sự rộng hơn rất nhiều, là các cá nhân, tổ chức (có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân). Một điểm cần lưu ý là nếu các thương nhân giao kết hợp đồng nhưng đó không phải là hợp đồng có liên quan tới các hoạt động nằm trong phạm vi điều chỉnh của điều 1, LTM 2005 thì hợp đồng đó sẽ được xem là hợp đồng dân sự. Vi dụ: A và B là thương nhân. Nhà B nuôi một con mèo rất đẹp. A giao kết hợp đồng mua con mèo từ nhà B về nuôi thì đó là hợp đồng dân sự chứ không phải là hợp đồng thương mại.
-         Về mục đích của hợp đồng: Mục đích của hợp đồng thương mại là sinh lợi vì “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi”[3]. Trong khi đó, mục đích của hợp đồng dân sự thường là tiêu dùng.
2.2.            Định nghĩa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
 BLDS 2005 quy định “Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”[4]. LTM 2005 quy định “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”[5]. Như vậy, định nghĩa về phạt vi phạm của cả 2 luật là giống nhau, đều chỉ một khoản tiền mà bên vi phạm nghĩa vụ trả cho bên kia nếu cả 2 bên có thoả thuận điều này.
 BLDS 2005 không có định nghĩa về bồi thường thiệt hại. LTM 2005 thì định nghĩa “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”[6]. Vận dụng các quy định có liên quan trong BLDS 2005 thì khái niệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại của LTM 2005 cũng tương tự như bồi thường thiệt hại cho các hợp đồng dân sự, đều chỉ nghĩa vụ phải bù đắp những tổn thất do việc vi phạm hợp đồng gây ra.
2.3.           Sự khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
 Về mặt khái niệm, phạt vi phạm chỉ một khoản tiền mà bên vi phạm nghĩa vụ phải trả cho bên kia. Như vậy, khoản tiền này không liên quan gì đến tổn thất mà bên kia phải chịu. Còn bồi thường thiệt hại chỉ việc bồi đắp những tổn thất mà bên vi phạm nghĩa vụ phải làm. Như vậy, về nguyên tắc, phải có thiệt hại mới phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Còn với phạt vi phạm, không có thiệt hại thì vẫn phát sinh nghĩa vụ trả tiền.
  Về mặt mục đích, phạt vi phạm được đặt ra để răn đe bên kia cố gắng tuân thủ hợp đồng. Còn bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp tổn thất mà bên bị vi phạm phải chịu.
 Về căn cứ xác định trách nhiệm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh khi hội tụ đủ 4 yếu tố sau: có hành vi vi phạm hợp đồng, lỗi, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra. Tất nhiên là vẫn có ngoại lệ nếu các bên thoả thuận khác. Trách nhiệm phạt vi phạm phát sinh chỉ cần 2 yếu tố: có hành vi vi phạm hợp đồng và lỗi. Thực tế, đôi khi một bên có lỗi và hành vi vi phạm hợp đồng nhưng không có thiệt hại xảy ra. Lúc này sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, còn trách nhiệm trả tiền phạt vi phạm sẽ phát sinh nếu 2 bên có thoả thuận về điều này. Cần lưu ý là chỉ khi có thoả thuận về phạt vi phạm thì mới phát sinh trách nhiệm phạt vi phạm. Còn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì dù trong hợp đồng, 2 bên không thoả thuận về điều này thì khi hội tụ đủ 4 yếu tố trên thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn xảy ra. Tất nhiên là pháp luật vẫn dành cho các bên được quyền thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (sẽ được phân tích ở phần sau).
2.4.            Thế nào là vi phạm hợp đồng?
 Về nguyên tắc, chỉ khi vi phạm hợp đồng mới xuất hiện trách nhiệm phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó, xác định thế nào là vi phạm hợp đồng là cực kỳ quan trọng.
 LTM 2005 quy định “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”[7]. Về mặt lý luận, vi phạm hợp đồng dẫn đến phát sinh nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm phải là vi phạm cơ bản, tức là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”[8]. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, hiện nay chưa có quy định nào bắt buộc phải là vi phạm cơ bản thì mới phát sinh trách nhiệm phạt vi phạm. Do đó, bên bị vi phạm hoàn toàn có quyền yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt vi phạm cho dù đó không phải là vi phạm cơ bản. Quan điểm của tác giả là ùng hộ việc phạt vi phạm chỉ khi đó là vi phạm cơ bản. Vì khi một vi phạm mà không ảnh hưởng tới mục đích của việc giao kết hợp đồng, không có thiệt hại thì theo nguyên tắc thiện chí, hợp tác của BLDS 2005, các bên nên tiếp tục cùng nhau thực hiện hợp đồng thay vì “chăm chăm” tìm cách phạt tiền lẫn nhau, ảnh hưởng tới sự bền vũng trong quan hệ của 2 bên.

3         3.  Phân tích phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dân sự và thương mại
3.1.           Phân tích phạt vi phạm trong hợp đồng dân sự và thương mại
 Về khái niệm, như đã phân tích ở mục 2.2, có sự thống nhất với nhau trong cách định nghĩa về phạt vi phạm của BLDS 2005 và LTM 2005. Như vậy, chủ thể có quyền đòi tiền phạt vi phạm là bên bị vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, chủ thể có trách nhiệm trả tiền phạt vi phạm là bên vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, khách thể trong quan hệ này là một khoản tiền, gọi là tiền phạt.
 Về thoả thuận phạt vi phạm, LTM 2005 quy định “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận”[9]. BLDS 2005 quy định “Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng… “[10]. Như vậy, thoả thuận phạt vi phạm là thoả thuận phải có trong hợp đồng ban đầu. Nếu các bên sau khi giao kết mới có thoả thuận phạt vi phạm thì thoả thuận phạt vi phạm đó không phù hợp theo quy định này, hoàn toàn có thể bị Toà án tuyên vô hiệu nếu có tranh chấp. Do đó, một cách khắc phục cho vấn đề này là nếu các bên sau khi giao kết hợp đồng mới có thoả thuận phạt vi phạm thì thoả thuận đó cần được quy định trong phụ lục hợp đồng (là một bộ phận của hợp đồng ban đầu), khi đó sẽ phù hợp với quy định này. Bản thân tác giả không đồng ý với quy định này của LTM 2005 và BLDS 2005 vì: Cho dù thoả thuận phạt vi phạm xuất hiện trước hay sau hợp đồng ban đầu thì nó đều có giá trị, vì nó là sự thoả thuận của cả hai bên. Hai bên có quyền thoả thuận một điều khoản ngoài hợp đồng chứ không nhất thiết phải đưa nó vào trong hợp đồng. Quy định này vô tình làm hạn chế đi sự tự do thoả thuận của 2 bên trong quan hệ này.
Về mức phạt vi phạm, có sự khác nhau trong quy định của BLDS 2005 và LTM 2005. LTM 2005 quy định “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm…”[11]. BLDS 2005 quy định “Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận”[12]. Như vậy khi nào áp dụng mức phạt không quá 8% theo LTM 2005, khi nào tự do thoả thuận mức phạt theo BLDS 2005? Về mặt lý luận, BLDS 2005 được xem là luật chung, LTM 2005 được xem là luật chuyên ngành. Do đó, ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành với các quan hệ chuyên ngành. Như đã phân tích tại mục 2.1, về nguyên tắc, với hợp đồng dân sự, 2 bên sẽ tự do thoả thuận mức phạt, với hợp đồng thương mại, 2 bên tự do thoả thuận theo mức phạt trần là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (cần lưu ý là 8% của giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm chứ không phải là 8% giá trị hợp đồng, mà xác định giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm trên thực tế là một việc cực kỳ khó khăn). Một vấn đề khá phổ biến hiện nay là nếu thoả thuận mức phạt trên 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm thì sao? Thoả thuận này sẽ bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hay bị điều chỉnh về lại 8%? Hiện nay, không có một quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vấn đề này, các Toà án khi giải quyết các tranh chấp này cũng thường đưa mức phạt về lại <= 8%. Do đó, kiến nghị pháp luật cần quy định cụ thể hơn về vấn đề này. Còn bản thân tác giả ủng hộ cách làm của Toà án khi đưa mức phạt về <=8% vì: đây là thoả thuận của 2 bên, 2 bên mong muốn có chế tài phạt vi phạm, do đó cần tôn trọng thoả thuận của 2 bên. Pháp luật lúc này chỉ giới hạn để tránh bên vi phạm bị thiệt hại quá nhiều cho việc phạt vi phạm, đó cũng là điều hợp lý. Thực tế các chuyên gia cũng tranh cãi mức 8% có phải là quá thấp hay không thì quan điểm tác giả mức 8% là hợp lý, vì đây chỉ là biện pháp “răn đe” các bên không vi phạm nghĩa vụ, nếu có thiệt hại thì bên bị thiệt hại đã được bồi thường thiệt hại rồi,do đó không thể “mong chờ” mức phạt hợp đồng cao, vì như vậy sẽ ảnh hưởng lớn tới “kinh tế” của người vi phạm, trong nhiều trường hợp, bản thân người vi phạm cũng không hề mong muốn chuyện đó xảy ra. Tuy nhiên, cần lưu ý là mức phạt trần 8% này chỉ áp dụng cho hợp đồng thương mại, với hợp đồng dân sự, các bên được tự do thoả thuận mức phạt.
 Về miễn trách nhiệm bị phạt vi phạm, nếu vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng dân sự nhưng  rơi vào trường hợp bất khả kháng theo khoản 2, điều 302 BLDS 2005 hay nếu vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng thương mại nhưng rơi vào các trường hợp miễn trách nhiệm tại điều 294 LTM 2005 thì bên vi phạm đều được miễn trách nhiệm bị phạt vi phạm. Tuy nhiên, BLDS 2005 có quy định “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”[13] , điều này có nghĩa rằng nếu có thoả thuận rằng rơi vào trường hợp bất khả kháng, vẫn bị phạt vi phạm thì khi bên vi phạm rơi vào trường hợp bất khả kháng vẫn phải bị phạt vi phạm, do pháp luật dành sự ưu tiên cho thoả thuận. Do đó, khi giao kết hợp đồng, các bên phải đặc biệt chú ý về vấn đề này.
3.2.            Phân tích bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dân sự và thương mại
 Về khái niệm, BLDS 2005 không định nghĩa thế nào là bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Tuy nhiên, BLDS 2005 có nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”[14]. Như vậy, tạm hiểu “trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dân sự là là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra”[15]. Còn với bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại thì tại LTM 2005 có quy định “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”[16]. Cơ bản thì khái niệm từ góc độ luật dân sự và khái niệm do LTM 2005 quy định không có gì khác nhau.
 Về cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, LTM 2005 có quy định, “…trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: Có hành vi vi phạm hợp đồng; Có thiệt hại thực tế; Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”[17]. Như vậy, lỗi không được đặt ra khi xét đến việc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng dân sự thì về nguyên tắc, phải có đủ 4 yếu tố thì mới phát sinh nghĩa vụ: có hành vi vi phạm hợp đồng, lỗi, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, do hợp đồng là 2 bên thoả thuận, nên trong trường hợp 2 bên thoả thuận không có lỗi vẫn phải bồi thường thiệt hại thì pháp luật vẫn tôn trọng sự thoả thuận của 2 bên trong vấn đề này.
 Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, chỉ có bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mới phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu thiệt hại là do bên thứ 3 gây ra thì lúc đó sẽ phát sinh thêm quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó, các bên không thể quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên thứ 3 trong hợp đồng nếu không được sự đồng ý của họ.
 Về mức bồi thường thiệt hại, do pháp luật dân sự ưu tiên thoả thuận nên về nguyên tắc sẽ theo hợp đồng của 2 bên, cụ thể, các bên có thoả thoả thuận ngay trong hợp đồng về mức bồi thường bằng, thấp hoặc cao hơn mức thiệt hại xảy ra và khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì mức bồi thường sẽ áp dụng mức do các bên thoả thuận. Quy tắc này cũng được áp dụng cho các hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu các bên không thoả thuận thì sẽ giải quyết ra sao? Theo LTM 2005 thì “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”[18]. Như vậy, nếu các bên không thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại thì về nguyên tắc, thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu. Thiệt hại ở đây là giả trị tổn thất thực tế và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng. Thực tế thì chứng minh giá trị tổn thất thực tế có thể dễ dàng thực hiện được, còn chứng minh khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm không phải là chuyện dễ dàng.
 Về nghĩa vụ chứng minh tổn thất khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, LTM 2005 có quy định, “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”[19]. Một điểm cần lưu ý là  theo BLDS 2005, “Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”[20]. Điều này cũng được quy định tương tự tại khoản 2, điều 294 LTM 2005.
 Về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các trường hợp này về cơ bản là giống nhau mặc dù cách diễn đạt có phần khác nhau trong LTM 2005 và BLDS 2005. LTM 2005 quy định “Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận; Xảy ra sự kiện bất khả kháng; Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng”[21]. Còn BLDS 2005 thì nói “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”[22]. BLDS 2005 có định nghĩa về sự kiện bất khả kháng “là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”[23]. Như vậy, trường hợp “Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng” trong LTM 2005 cũng có thể được xem như là một sự kiện bất khả kháng. Còn trong trường hợp các bên thoả thuận thêm các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại dù là trong hợp đồng dân sự hay thương mại thì đều được pháp luật bảo vệ.
3.3.           Mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
 Có sự khác nhau trong quy định về mối quan hệ này giữa LTM 2005 và BLDS 2005. Cụ thể, LTM 2005 quy định “Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”[24]. Còn BLDS 2005 quy định mối quan hệ này như sau “Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm”[25]. Như vậy, nếu là hợp đồng dân sự thì trong trường hợp 2 bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm chỉ phải nộp tiền phạt. Đây là lưu ý cực kỳ quan trọng cho các bên khi giao kết hợp đồng dân sự. Còn với hợp đồng thương mại, nếu các bên không thoả thuận về bồi thường thiệt hại và phạt hợp đồng hoặc các bên chỉ thoả thuận về phạt vi phạm mà không thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên vi phạm. Bản thân tác giả ủng hộ quy định của LTM 2005 hơn là BLDS 2005 vì: Phạt vi phạm mang ý nghĩa “răn đe” các bên tuân thủ đúng hợp đồng, chứ không mang nghĩa bù đắp tổn thất do việc vi phạm hợp đồng gây ra. Do đó, hợp lý hơn là dù có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.

4      4. Kết luận
 Các quy phạm pháp luật trong LTM 2005 và BLDS 2005 đã tồn tại được hơn 10 năm, trong đó đã có những quy định lỗi thời và mâu thuẫn lẫn nhau, nổi bật là các quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng như đã phân tích ở trên. Sắp tới, Quốc hội chuẩn bị sửa đổi, thay thế các văn bản pháp luật này. Hi vọng các hạn chế trong những quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng sẽ được cải thiện. Trong thời gian chờ đợi điều đó, các chủ thể khi tham gia vào các hợp đồng dân sự, thương mại cần chú trọng hơn vào hợp đồng của mình, vì đó được xem là “luật” của đôi bên. Các thoả thuận cụ thể, rõ ràng sẽ giúp các bên hạn chế được rủi ro cho mình khi tham gia vào các hợp đồng dân sự, thương mại. Bài phân tích tập trung vào phân tích các quy định về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, sự khác nhau và mối quan hệ của 2 vấn đề này hi vọng sẽ giúp các chủ thể khi tham gia vào hợp đồng dân sự, thương mại hiểu rõ và quy định tốt hơn trong các hợp đồng của mình, từ đó thúc đẩy giao lưu kinh tế, hợp tác giữa các chủ thể trong nền kinh tế.





[1] Điều 388 BLDS 2005.
[2] Khoản 1, điều 3, LTM 2005.
[3] Trích khoản 1, điều 3, LTM 2005.
[4] Khoản 1, điều 422, BLDS 2005.
[5] Điều 300 LTM 2005.
[6] Khoản 1, điều 302 LTM 2005.
[7] Khoản 12, điều 3, LTM 2005.
[8] Khoản 13, điều 3, LTM 2005.
[9] Điều 300, LTM 2005.
[10] Khoản 1, điều 422 BLDS 2005.
[11] Điều 301, LTM 2005.
[12] Khoản 2, điều 422 BLDS 2005.
[13] Khoản 2, điều 302 BLDS 2005.
[14] Điều 307 BLDS 2005.
[16] Khoản 1, điều 302 LTM 2005.
[17] Điều 303 LTM 2005.
[18] Khoản 2, điều 302 LTM 2005.
[19] Điều 304 LTM 2005.
[20] Khoản 3, điều 302 BLDS 2005.
[21] Khoản 1, điều 294 LTM 2005.
[22] Khoản 2, 3 điều 302 BLDS 2005.
[23] Khoản 1, điều 161 BLDS 2005.
[24] Điều 307 LTM 2005.
[25] Khoản 3, điều 422 BLDS 2005.